Danh mục

Điều trị bệnh tiêu chảy cấp do vi khuẩn tả

Số trang: 5      Loại file: pdf      Dung lượng: 170.71 KB      Lượt xem: 5      Lượt tải: 0    
Thư viện của tui

Phí lưu trữ: miễn phí Tải xuống file đầy đủ (5 trang) 0
Xem trước 2 trang đầu tiên của tài liệu này:

Thông tin tài liệu:

Tiêu chảy cấp thường xảy ra sau khi người bệnh ăn phải các thực phẩm không đảm bảo vệ sinh. Bệnh tiêu chảy cấp do vi khuẩn tả có thời kỳ ủ bệnh từ vài giờ đến 5 ngày. Khởi phát biểu hiện bằng sôi bụng, đầy bụng, tiêu chảy vài lần. Sau đó bệnh nhân bị tiêu chảy liên tục “miệng nôn, trôn tháo” rất nhiều lần với khối lượng lớn. Bệnh nhân thường không sốt, ít khi đau bụng. Tình trạng mất nước và điện giải gây mệt lả, chuột rút…Bệnh diễn biến từ 1-3 ngày nếu...
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
Điều trị bệnh tiêu chảy cấp do vi khuẩn tả Điều trị bệnh tiêu chảy cấp do vi khuẩn tả Tiêu chảy cấp thường xảy ra sau khi người bệnh ăn phải các thựcphẩm không đảm bảo vệ sinh. Bệnh tiêu chảy cấp do vi khuẩn tả có thời kỳ ủ bệnh từ vài giờ đến 5ngày. Khởi phát biểu hiện bằng sôi bụng, đầy bụng, tiêu chảy vài lần. Sau đóbệnh nhân bị tiêu chảy liên tục “miệng nôn, trôn tháo” rất nhiều lần với khốilượng lớn. Bệnh nhân thường không sốt, ít khi đau bụng. Tình trạng mấtnước và điện giải gây mệt lả, chuột rút…Bệnh diễn biến từ 1-3 ngày nếuđược bù đủ nước và điều trị kháng sinh. Nguyên nhân do ăn uống thực phẩm chưa nấu chín bị ô nhiễm như hảisản sống, rau sống, các loại thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn tả…Bệnh nàykhác với bệnh tiêu chảy do nhiễm trùng, nhiễm độc thức ăn do Salmonella(vi khuẩn thương hàn). Sau khi thức ăn nhiễm khuẩn 12-24 giờ, sốt cao, đaubụng tiêu chảy và nôn có thể gây mất nước, phân có thể nước hoặc mất máu.Cần phân biệt với bệnh ly trực khuẩn là người bệnh bị sốt, đau quặn bụng,mót rặn và phân có máu mũi. Trong một số trường hợp ngộ độc thức ăn do ăn phải nấm độc: khôngsốt, đau bụng nhiều, nôn và tiêu chảy sau khi ăn phải nấm độc. Trường hợpnặng có thể gây nôn ra máu, đi ngoài ra máu, vàng da và mê sảng. Cần hỏikỹ tiền sử ăn uống. Tiêu chảy do ngộ độc hoá chất, do ăn thức ăn có nhiễmhoá chất như hoá chất bảo vệ thực vật. - Bù nước và điện giải bằng đường uống: Áp dụng cho những trườnghợp nhẹ, giai đoạn đầu chưa mất nước nhiều và giai đoạn hồi phục. Có thểáp dụng tại nhà hoặc ở các cơ sở y tế. Các loại dịch dùng đường uống:Oresol (ORS) pha với một lít nước đun sôi để nguội. Có thể pha dịch thaythế: 8 thìa cà phê đường, 1 thìa nhỏ muối pha trong 1 lít nước, hoặc nướccháo 50g gạo vào một nhúm (3,5g) muối hoặc nước dừa non có pha mộtnhúm muối. Nên cho uống theo nhu cầu. Nếu nôn nhiều nên uống từngngụm nhỏ. Tại bệnh viện có thể cho truyền tĩnh mạch các loại dịch truyền:Natri bicarbonat 0,9% hoặc Ringer lactat: Natri bicarbonat 1,4%; Glucose5%, Bổ sung thêm kali corid KCI. Khi bệnh nhân uống được thay bằngđường uống. - Điều trị kháng sinh: Thuốc được dùng ưu tiên là nhómfluoroquinolon (ciprofloxacin, norfloxacin, ofloxacin) uống chia 2 lần/ngày.Không dùng nhóm thuốc này cho trẻ em dưới 12 tuổi, phụ nữ có thai và chocon bú. Thận trọng khi dùng cho trẻ từ 12-18 tuổi. Ngoài ra, có thể dùngAzithromycin uống hoặc Cloramphenicol. Đối với trẻ em dưới 12 tuổi, phụnữ có thai và cho con bú: dùng azithromycin. Nếu không có sẵn các thuốctrên có thể dùng: Erythromycin hoặc Doxycyclin uống trong trường hợp vikhuẩn còn nhạy cảm. Chú ý: không được dùng các thuốc làm giảm nhu độngruột như morphin, opizoic, atropin, loperamide…Chăm sóc dinh dưỡng: Nêncho bệnh nhân ăn sớm, ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, trẻ còn bú tăng cường búmẹ. Khi có bệnh nhân phải thông báo dịch cho y tế cấp trên và hệ y học dựphòng. Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp cách ly bệnh nhân ở buồngriêng theo đường tiếp xúc và xử lý phân và chất thải. Ngâm tay bằng dungdịch cloramin B, hoặc rửa tay bằng các dung dịch khử khuẩn sau khi thămkhám, chăm sóc bệnh nhân. Vệ sinh buồng bệnh ít nhất 2 lần/ngày bằng cácdung dịch cloramin B, nước javen 1-2 % hoặc các chế phẩm khử khuẩnkhác.

Tài liệu được xem nhiều: