Đông y điều trị bệnh than IgABệnh thận IgA là gì?Bệnh thận IgA là một thể viêm cầu thận mạn tính, được Berger và Hinglais mô tả lần đầu tiên vào năm 1968, với đặc điểm giải phẫu - miễn dịch bệnh lý là có IgA (một loại globu bin miễn dịch) lắng đọng tại gian mạch cầu thận, biểu hiện lâm sàng là đái ra máu đại thể (mắt thường nhìn thấy nước nếu có màn hồng như nước rửa thịt, thậm chí đỏ như máu tươi) tái đi tái lại nhiều lần xen kẽ với đái ra máu...
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
Đông y điều trị bệnh than IgA Đông y điều trị bệnh than IgA Bệnh thận IgA là gì? Bệnh thận IgA là một thể viêm cầu thận mạn tính, được Berger và Hinglais mô tả lần đầu tiên vào năm 1968, với đặc điểm giải phẫu - miễn dịch bệnh lý là có IgA (một loại globu bin miễn dịch) lắng đọng tại gian mạch cầu thận, biểu hiện lâm sàng là đái ra máu đại thể (mắt thường nhìn thấy nước nếu có màn hồng như nước rửa thịt, thậm chí đỏ như máu tươi) tái đi tái lại nhiều lần xen kẽ với đái ra máu vi thể (soi dưới kính hiển vi mới thấy) hoặc chỉ có đái ra máu vi thể, có kèm theo đái ra protein mức độ khác nhau, số ít bệnh nhân đái ra protein mức độ nặng và biểu hiện thành hội chứng thận hư.Bệnh tiến triển kéo dài, tương đối lành tính, ngoại trừ những ca có hội chứng thận hưbuộc người bệnh phải tìm thầy chữa trị, đa số các trường hợp còn lại không được chẩnđoán và điều trị một cách hệ thống, tuy nhiên hiện nay đã phát hiện một số bệnh nhân sau10-15 năm đã tiến triển đến giai đoạn suy thận.Chẩn đoán bệnh thận IgAKhi có đái ra máu đại thể tái đi tái lại hoặc đái ra máu vi thể kéo dài, phải đi khám để tiếnhành các biện pháp chẩn đoán định vị đái ra máu. Nếu đái ra máu do bệnh lý tiểu cầuthận được ghi nhận, phải làm sinh thiết thận, nhờ kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang, nếuphát hiện có IgA lắng đọng tại gian mạch cầu thận, tức chẩn đoán bệnh thận IgA đượcxác địnhQuan niệm của y học cổ truyền về bệnh thận IgAVới biểu hiện chủ yếu là tiểu ra máu, bệnh thận IgA thuộc phạm trù niệu huyết của y họccổ truyền, nếu có phù thũng, lưng đau gối mỏi, cơ thể suy nhược thì tham khảo các chứngthủy thũng hoặc hư hao của y học cổ truyền mà vận dụng điều trị.Nguyên nhân và cơ chế bênh sinh bệnh là chuyến có 3 khả năng:- Phong nhiệt phạm phế làm phế mất tuyên giáng, nhiệt tà truyền xuống hạ tiêu làm tổnthương thận lạc, gây ra thủy thũng hoặc niệu huyết.- Do bẩm thụ âm dịch bất túc, hoặc phiền lao quá độ dẫn đến can thận âm hư, âm hư sinhnội nhiệt, hư nhiệt tổn thương thận lạc mà niệu huyết.- Bẩm thụ khí hư, hoặc do lao lực quá độ tổn thương tỳ thận, dẫn đến tỳ thận khí hư, tỳhư không nhiếp được huyết, thận hư mất chức năng phong tàng, dẫn đến tinh huyết thẩmlậu vào nước tiểu, xuất hiện huyết niệu hoặc pro- tein niệu. Nhìn chung, cơ chế bệnh sinhcủa bệnh thận IgA gồm âm hư, khí hư là bản; phong, thấp, nhiệt, huyết ứ là tiêu; âm hưthường kèm thấp nhiệt, khí hư thường kèm huyết hưChữa bệnh thận IgA theo y học cổ truyềnNhư với nhiều chứng bệnh khác, điều trị bệnh thận IgA bằng y học cổ truyền cũng theonguyên tắc chung là kết hợp chặt chẽ giữa dùng thuốc với tập luyện dưỡng sinh và ănuống hợp lý để nâng cao sức đề kháng. Khi dùng thuốc có thể lựa chọn các vị thuốc trêncơ sở biện chứng luận trị hoặc theo đơn phương, nghiệm phương; trong đó phương phápbiện chứng luận trị là hay dùng hơn cả.Khi biện chứng luận trị, căn cứ vào chứng trạng cụ thể, y học cổ truyền chia bệnh thậnIgA thành các thể khác nhau, từ đó có phương pháp điều trị và bài thuốc tương ứng.Thông thường người ta chia làm 2 giai đoạn cấp tính tái phát và mạn tính tiềm ẩn với cácthể bệnh như sau:Giai đoạn cấp tính có 3 thể.- Phong nhiệt nhiễu lạc: phép trị là sơ phong thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết; dùngNgân kiều tán gia giảm. Bài thuốc gồm: ngân hoa 15g, liên kiều 5g, trúc diệp 12g, ngưubàng tử 12g, đạm đậu xị 12g, cam thảo 5g, cát cánh 12g, huyền sâm 15g, bạch mao căn20g, ngư tinh thảo 20g; đái ra máu đại thể gia đại kế, tiểu kế mỗi vị 15g; sắc uống mỗingày một thang.- Hạ tiêu thấp nhiệt: phép trị là thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết chỉ huyết; dùng bài Tiểukế ẩm tử gia vị. Bài thuốc gồm: ngân tiết (củ sen) 15g, bồ hoàng 9g, mộc thông 9g, bôngmã đề 15g, sinh địa hoàng 15g, đương quy 9g, chi tử sao đen 9g, đạm trúc diệp 12g, camthảo 5g, nhân trần 15g, thạch vĩ 15g, biền súc 15g; sắc uống ngày một thang.- Tâm hỏa cang thịnh: phép trị là thanh âm tả hỏa, lương huyết chỉ huyết; dùng phươngĐạo xích tán gia vị. Bài thuốc gồm: sinh địa hoàng 18g, trúc diệp 12g, mộc thông 9g,cam thảo 5g, bồ hoàng 9g, ngẫu tiết 15g, hoạt thạch 20g, chi tử 6g; sắc uống ngày mộtthang.Giai đoạn mạn tính tiềm ẩn có 3 thể.- Âm hư hỏa vượng: phép trị là tư dưỡng can thận, lương huyết chỉ huyết; dùng bài trị báđịa hoàng hoàn gia vị. Bài thuốc gồm: tri mẫu 12g, hoàng bá bắc 12g, sinh tha 18g, sơnthù 9g, hoài sơn 1 ...