Giả kim thuật
Số trang: 3
Loại file: pdf
Dung lượng: 147.68 KB
Lượt xem: 13
Lượt tải: 0
Xem trước 2 trang đầu tiên của tài liệu này:
Thông tin tài liệu:
Giả kim thuật (alchemy) đã có lịch sử hàng mấy nghìn năm. Nó là tiền thân của môn hóa học cận đại và có ảnh hưởng sâu sắc đến khoa học kỹ thuật thời cổ cũng như đời sống loài người. Lịch sử Ý nghĩ điều chế được vàng từ kim loại thường đã nảy nở từ ngày xưa khi mà sự phát triển của thương mại đã dần dần biến vàng thành thứ kim loại quý giá nhất mang đến tiền bạc và quyền lực cho con người. Từ rất lâu trước Công nguyên, ở Ai Cập, Ấn Độ,...
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
Giả kim thuật Giả kim thuậtGiả kim thuật (alchemy) đã có lịch sử hàng mấy nghìn năm. Nó là tiền thân của mônhóa học cận đại và có ảnh hưởng sâu sắc đến khoa học kỹ thuật thời cổ cũng như đờisống loài người.Lịch sửÝ nghĩ điều chế được vàng từ kim loại thường đã nảy nở từ ngày xưa khi mà sự phát triểncủa thương mại đã dần dần biến vàng thành thứ kim loại quý giá nhất mang đến tiền bạcvà quyền lực cho con người.Từ rất lâu trước Công nguyên, ở Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc và Hi Lạp cổ đại người tađã biết rằng vàng có thể hỗn hợp với bạc, đồng và nhiều thứ kim loại khác. Thế là xuấthiện vàng nhân tạo bằng cách đưa thêm đồng và các kim loại khác vào vàng. Ngoài rangười ta còn trộn đồng màu đỏ và thiếc màu trắng thành hợp kim đồng-thiếc có màugiống vàng. Điều đó chừng như xác nhận rằng có thể biến các kim loại khác thành vàng.Năm 296, Hoàng đế La Mã buộc phải ra sắc lệnh hủy bỏ những cách điều chế vàng nóitrên vì vàng giả tràn ngập thị trường. Để trốn tránh lệnh truy nã, các nhà giả kim thuậtchạy từ Ai Cập sang Babylon, Syria và dựng các phòng thí nghiệm kiên trì biến kim loạithường thành vàng.Khát vọng điều chế được vàng của các nhà giả kim thuật có thể tồn tại dai dẳng như vậyvì họ chịu ảnh hưởng học thuyết của Aristotle, một nhà triết học cổ Hi Lạp sống ở thế kỷthứ 4 trước Công Nguyên.Ngày nay,việc chế tạo vàng vẫn còn là một mục tiêu theo đuổi của một số nhà khoahọc,người ta đã hiểu rõ bản chất của vàng cũng như cấu tạo hạt nhân của nó;Do đó,việcbiến các kim loại rẽ tiền khác thành vàng là điều có thể làm được nhưng đòi hỏi kĩ thuậtrất cao, tốn kém và không kinh tế vì thế các nghiên chế tạo vàng theo hướng này hầu nhưít được theo đuổi mà hiện nay có một hướng nghiên cứu mới không phải chế tạo vàng màlà trích xuất vàng có trong tự nhiên.Dựa vào lượng vàng khổng lồ có sẵn trong các đạidương cũng như lượng vàng rơi rãi trong các quặng nghèo mà người ta có ý tưởng dùngcông nghệ biến đổi gien để tạo ra những bãi rong biển có khả năng hấp thụ vàng trongnước biển cũng như những thảm cỏ có khả năng hấp thụ vàng cao trong đất để phủ đầytrên bề mặt các quặng nghèo.Nếu việc nghiên cứu này thành công thì lúc đó chúng ta cóthể có những mùa gặt vàng bội thuGiả kim thuật của người Ả RậpVào thế kỷ thứ 8, sau khi người Ả Rập chinh phục Ai Cập, Syria và hàng loạt các quốcgia ở vùng Cận Đông thì trung tâm khoa học đã chuyển về Ả Rập. Vào đầu thế ký thứ 9,họ đã có giả kim thuật riêng và khác với giả kim thuật của người Hi Lạp.Các nhà giả kim thuật Ả Rập không tiếp thu một cách đơn thuần thuyết Aristotle mà còngiải thích chúng theo ý họ và bổ sung các khái niệm mới. Họ giải thích sự xuất hiện củacác kim loại trong thiên nhiên là do 2 chất ban đầu là lưu huỳnh và thủy ngân vì: • Thủy ngân có điểm đặc biệt là khả năng hòa tan các kim loại khác, kể cả vàng và đặc quánh lại tạo thành hỗn hống. • Lưu huỳnh có tính chất lí thú là khi kết hợp với chì và thiếc nó sẽ cho các kim loại đó vẻ sáng và màu sắc của bạc, kết hợp với đồng và sắt sẽ cho các kim lại đó màu sắc và vẻ sáng của vàng.Theo ý kiến của các nhà giả kim thuật Ả Rập muốn điều chế vàng và bạc từ kim loạithường thì cần tỉ lệ kết hợp giữa thủy ngân và lưu huỳnh là đủ và hàng loạt cách điều chếvàng đã ra đời. Tuy nhiên tất cả đều thất bại.Nhưng các nhà giả kim thuật Ả Rập không chỉ điều chế vàng mà còn nghiên cứu các chấtvà phương pháp điều chế các chất đó. Từ đó nhiều loại axít, bazơ, khoáng chất đã dượcphát hiện. Đó là sự đóng góp vô cùng to lớn của các nhà giả kim thuật Ả Rập cho sự pháttriển của hóa học.Chính người Ả Rập đã thêm vào từ chymeia, nghĩa là hóa học, tiếp đầu ngữ al để thànhalchymeia, nghĩa là giả kim thuật. Tên gọi này tồn tại đến cuối thế kỷ 18.Giả kim thuật của người Trung QuốcGiả kim thuật của người Trung Quốc khác hẳn với giả kim thuật của người Hi Lạp. Trongkhi người Hi Lạp cố biến kim loại thường thành vàng thì người Trung Quốc cố tìm kiếmthuốc trường sinh bất lão. Vì thế giả kim thuật Trung Quốc có tên gọi là luyện đan, dựatrên cơ sở học thuyết thần tiên. Các đạo gia chia luyện đan thành ngoại đan và nội đan.Ngoại đan là dùng lửa luyện các khoáng chất như chì, thủy ngân trong các lò đặc biệtbiến chúng thành đan dược nuốt vào có thể thành tiên hay trường sinh bất lão.Thứ được các nhà giả kim thuật Trung Quốc ưa sử dụng nhất là đan sa, công thức hóahọc là HgS, luyện trong các lò thành vàng, uống vàng đó sẽ trường sinh bất lão. Các đạosĩ cho rằng đan sa có màu đỏ là màu cao quý, có khả năng chữa bách bệnh, ngoài ra khiđun nóng còn phân tích thành thủy ngân là thứ kim loại kì lạ và có những đặc điểm lí thú.Chính vì thế mà đan sa được xem là tiên dược để luyện thuốc trường sinh.Do đan sa có độc tính cao nên nhiều trường hợp người xưa đã chết khi sử dụng nó. Thờinhà Đường, Đường Thái Tông, Đường Hiến Tông, Đường Mục Tông, Đường Kính Tôngtrúng độc do uống kim đan. Vì thế, ngoại đan dần dần suy vi chỉ còn luyện đan là khởithủy của ngành luyện kim ngày nay. ...
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
Giả kim thuật Giả kim thuậtGiả kim thuật (alchemy) đã có lịch sử hàng mấy nghìn năm. Nó là tiền thân của mônhóa học cận đại và có ảnh hưởng sâu sắc đến khoa học kỹ thuật thời cổ cũng như đờisống loài người.Lịch sửÝ nghĩ điều chế được vàng từ kim loại thường đã nảy nở từ ngày xưa khi mà sự phát triểncủa thương mại đã dần dần biến vàng thành thứ kim loại quý giá nhất mang đến tiền bạcvà quyền lực cho con người.Từ rất lâu trước Công nguyên, ở Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc và Hi Lạp cổ đại người tađã biết rằng vàng có thể hỗn hợp với bạc, đồng và nhiều thứ kim loại khác. Thế là xuấthiện vàng nhân tạo bằng cách đưa thêm đồng và các kim loại khác vào vàng. Ngoài rangười ta còn trộn đồng màu đỏ và thiếc màu trắng thành hợp kim đồng-thiếc có màugiống vàng. Điều đó chừng như xác nhận rằng có thể biến các kim loại khác thành vàng.Năm 296, Hoàng đế La Mã buộc phải ra sắc lệnh hủy bỏ những cách điều chế vàng nóitrên vì vàng giả tràn ngập thị trường. Để trốn tránh lệnh truy nã, các nhà giả kim thuậtchạy từ Ai Cập sang Babylon, Syria và dựng các phòng thí nghiệm kiên trì biến kim loạithường thành vàng.Khát vọng điều chế được vàng của các nhà giả kim thuật có thể tồn tại dai dẳng như vậyvì họ chịu ảnh hưởng học thuyết của Aristotle, một nhà triết học cổ Hi Lạp sống ở thế kỷthứ 4 trước Công Nguyên.Ngày nay,việc chế tạo vàng vẫn còn là một mục tiêu theo đuổi của một số nhà khoahọc,người ta đã hiểu rõ bản chất của vàng cũng như cấu tạo hạt nhân của nó;Do đó,việcbiến các kim loại rẽ tiền khác thành vàng là điều có thể làm được nhưng đòi hỏi kĩ thuậtrất cao, tốn kém và không kinh tế vì thế các nghiên chế tạo vàng theo hướng này hầu nhưít được theo đuổi mà hiện nay có một hướng nghiên cứu mới không phải chế tạo vàng màlà trích xuất vàng có trong tự nhiên.Dựa vào lượng vàng khổng lồ có sẵn trong các đạidương cũng như lượng vàng rơi rãi trong các quặng nghèo mà người ta có ý tưởng dùngcông nghệ biến đổi gien để tạo ra những bãi rong biển có khả năng hấp thụ vàng trongnước biển cũng như những thảm cỏ có khả năng hấp thụ vàng cao trong đất để phủ đầytrên bề mặt các quặng nghèo.Nếu việc nghiên cứu này thành công thì lúc đó chúng ta cóthể có những mùa gặt vàng bội thuGiả kim thuật của người Ả RậpVào thế kỷ thứ 8, sau khi người Ả Rập chinh phục Ai Cập, Syria và hàng loạt các quốcgia ở vùng Cận Đông thì trung tâm khoa học đã chuyển về Ả Rập. Vào đầu thế ký thứ 9,họ đã có giả kim thuật riêng và khác với giả kim thuật của người Hi Lạp.Các nhà giả kim thuật Ả Rập không tiếp thu một cách đơn thuần thuyết Aristotle mà còngiải thích chúng theo ý họ và bổ sung các khái niệm mới. Họ giải thích sự xuất hiện củacác kim loại trong thiên nhiên là do 2 chất ban đầu là lưu huỳnh và thủy ngân vì: • Thủy ngân có điểm đặc biệt là khả năng hòa tan các kim loại khác, kể cả vàng và đặc quánh lại tạo thành hỗn hống. • Lưu huỳnh có tính chất lí thú là khi kết hợp với chì và thiếc nó sẽ cho các kim loại đó vẻ sáng và màu sắc của bạc, kết hợp với đồng và sắt sẽ cho các kim lại đó màu sắc và vẻ sáng của vàng.Theo ý kiến của các nhà giả kim thuật Ả Rập muốn điều chế vàng và bạc từ kim loạithường thì cần tỉ lệ kết hợp giữa thủy ngân và lưu huỳnh là đủ và hàng loạt cách điều chếvàng đã ra đời. Tuy nhiên tất cả đều thất bại.Nhưng các nhà giả kim thuật Ả Rập không chỉ điều chế vàng mà còn nghiên cứu các chấtvà phương pháp điều chế các chất đó. Từ đó nhiều loại axít, bazơ, khoáng chất đã dượcphát hiện. Đó là sự đóng góp vô cùng to lớn của các nhà giả kim thuật Ả Rập cho sự pháttriển của hóa học.Chính người Ả Rập đã thêm vào từ chymeia, nghĩa là hóa học, tiếp đầu ngữ al để thànhalchymeia, nghĩa là giả kim thuật. Tên gọi này tồn tại đến cuối thế kỷ 18.Giả kim thuật của người Trung QuốcGiả kim thuật của người Trung Quốc khác hẳn với giả kim thuật của người Hi Lạp. Trongkhi người Hi Lạp cố biến kim loại thường thành vàng thì người Trung Quốc cố tìm kiếmthuốc trường sinh bất lão. Vì thế giả kim thuật Trung Quốc có tên gọi là luyện đan, dựatrên cơ sở học thuyết thần tiên. Các đạo gia chia luyện đan thành ngoại đan và nội đan.Ngoại đan là dùng lửa luyện các khoáng chất như chì, thủy ngân trong các lò đặc biệtbiến chúng thành đan dược nuốt vào có thể thành tiên hay trường sinh bất lão.Thứ được các nhà giả kim thuật Trung Quốc ưa sử dụng nhất là đan sa, công thức hóahọc là HgS, luyện trong các lò thành vàng, uống vàng đó sẽ trường sinh bất lão. Các đạosĩ cho rằng đan sa có màu đỏ là màu cao quý, có khả năng chữa bách bệnh, ngoài ra khiđun nóng còn phân tích thành thủy ngân là thứ kim loại kì lạ và có những đặc điểm lí thú.Chính vì thế mà đan sa được xem là tiên dược để luyện thuốc trường sinh.Do đan sa có độc tính cao nên nhiều trường hợp người xưa đã chết khi sử dụng nó. Thờinhà Đường, Đường Thái Tông, Đường Hiến Tông, Đường Mục Tông, Đường Kính Tôngtrúng độc do uống kim đan. Vì thế, ngoại đan dần dần suy vi chỉ còn luyện đan là khởithủy của ngành luyện kim ngày nay. ...
Tìm kiếm theo từ khóa liên quan:
khoa học tự nhiên hóa học Giả kim thuật alchemy khoa học kỹ thuật thời cổGợi ý tài liệu liên quan:
-
176 trang 278 3 0
-
46 trang 101 0 0
-
14 trang 99 0 0
-
Tổng hợp nano ZnO sử dụng làm điện cực âm trong nguồn điện bạc - kẽm
5 trang 47 0 0 -
Bài thuyết trình: Tìm hiểu quy trình sản xuất gelatine từ da cá và ứng dụng gelatine
28 trang 40 0 0 -
13 trang 39 0 0
-
11 trang 36 0 0
-
Báo cáo thực tập chuyên đề Vật liệu Ruby Al2O3 : Cr3+ nhâm tạo
25 trang 36 0 0 -
Đề thi môn Hoá học (Dành cho thí sinh Bổ túc)
3 trang 36 0 0 -
34 trang 35 0 0