Thông tin tài liệu:
Nội soi chẩn đoán hiện nay được xem là phương pháp chẩn đoán chính xác nhất tổn thương vòi trứng ở bệnh nhân vô sinh. Kết quả chẩn đoán nội soi được xem là tiêu chuẩn vàng để đánh giá các kỹ thuật chẩn đoán vô sinh do tổn thương vòi trứng: HSG, siêu âm, kháng thể kháng Chlamydia,… Để chẩn đoán tổn thương vòi trứng, HSG thường được chọn là biện pháp đầu tay. Tuy nhiên độ chính xác của HSG trong chẩn đoán sự thông thương của vòi trứng vẫn còn được bàn cãi. Gần đây, xét...
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA TỔN THƯƠNG VÒI TRỨNG CHỤP TỬ CUNG VÒI TRỨNG (HSG) và XÉT NGHIỆM TÌM KHÁNG THỂ KHÁNG CHLAMYDIA
GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA TỔN THƯƠNG VÒI TRỨNG
CHỤP TỬ CUNG VÒI TRỨNG (HSG) và XÉT NGHIỆM
TÌM KHÁNG THỂ KHÁNG CHLAMYDIA
Mở đầu
Nội soi chẩn đoán hiện nay được xem là phương pháp chẩn đoán chính xác nhất
tổn thương vòi trứng ở bệnh nhân vô sinh. Kết quả chẩn đoán nội soi được xem là
tiêu chuẩn vàng để đánh giá các kỹ thuật chẩn đoán vô sinh do tổn thương vòi
trứng: HSG, siêu âm, kháng thể kháng Chlamydia,…
Để chẩn đoán tổn thương vòi trứng, HSG thường được chọn là biện pháp đầu tay.
Tuy nhiên độ chính xác của HSG trong chẩn đoán sự thông thương của vòi trứng
vẫn còn được bàn cãi. Gần đây, xét nghiệm miễn dịch tìm kháng thể kháng
Chlamydia bắt đầu được sử dụng rộng rãi để góp phần đánh giá tổn thương vòi
trứng.
Phương pháp
Đây là một nghiên cứu hồi cứu, mô tả kết quả nội soi chẩn đoán của các trường
hợp vô sinh có HSG bất thường, trong đó có tham khảo kết quả định lượng kháng
thể kháng Chlamydia.
Các trường hợp bệnh nhân đến khám tại Phòng khám Hiếm muộn, Bệnh viện Từ
Dũ từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2005 có kết qu ả HSG bất thường và có kết quả nội
soi chẩn đoán sau đó được nhận vào nghiên cứu. Chúng tôi tham khảo hồ sơ các
trường hợp và ghi nhận các dữ liệu liên quan. Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS
để xử lý và mô tả số liệu.
Kết quả
Tổng cộng có 180 trường hợp được nhận vào nghiên cứu. Có 112 trường hợp là vô
sinh nguyên phát (62,2%); Tuổi trung bình là 28,9 (min:20; max:40). 178 trường
hợp có mật độ tinh trùng bình thường. Có 12 trường hợp có tiền căn phẫu thuật
vùng bụng trước đây.
Trong 180 trường hợp có HSG bất thường, khi nội soi chỉ phát hiện có tổn thương
thật sự ở ít nhất 1 vòi trứng trong 92 trường hợp (51,8%). Như vậy, tỉ lệ dương
tính giả của HSG khi chẩn đoán tổn thương vòi trứng lên đến gần ½ (48,9%).
Bảng 1. Mô tả các dạng tổn thương ống dẫn trứng phát hiện qua nội soi
Tổn thương Số trường hợp Tỉ lệ
Tắc ODT 1 bên 37 40,2%
Tắc ODT 2 bên 38 41,3%
Ứ dịch ODT 1 bên 10 10,9%
Ứ dịch ODT bên 6 6,5%
Có dính 35 42,4%
(Một số trường hợp có tổn thương phối hợp)
Trong mẫu nghiên cứu (N=180), có 165 trường hợp có kết quả kháng thể kháng
Chlamydia (KTC) trong máu. Trong đó, có 125 trường hợp kết quả âm tính và 40
trường hợp kết quả dương tính.
Bảng 2. Tương quan giữa kết quả KTC và kết quả nội soi vòi trứng trên bệnh nhân
HSG bất thường (p Tổng
KTC (+) KTC (-)
29 57 (45,5%) 86
Nội soi ODT có tắc vòi t
(72,5%) (52,1%)
11 68 (54,4%) 79
Nội soi ODT bình thường
(27,5%) (47,9%)
Tổng 40 125 165
(100%) (100%) (100%)
Nếu HSG bất thường và KTC âm tính, chỉ có 45,5% trường hợp là có tắc vòi trứng
thật sự qua nội soi. Trong khi nếu HSG bất th ường và KTC dương tính, thì có tới
72,5% trường hợp có tắc vòi trứng.
Bảng 3. Tương quan giữa kết quả KTC và kết quả nội soi có tình trạng dính trên
bệnh nhân HSG bất thường (p 19 16 (12,8%) 35
Nội soi có dính
(47,5%) (21,2%)
21 109 130
Nội soi không dính
(52,5%) (87,2%) (78,8%)
Tổng 40 125 165
(100%) (100%) (100%)
Ngoài ra nếu HSG bất thường và KTC (+) thì có đến gần ½ trường hợp có tình
trạng dính khi khảo sát vùng chậu qua nội soi. KTC (+) có giá trị tiên lượng có
dính ở vùng chậu cao khi khảo sát bằng nội soi.
Kết luận
Kết quả khảo sát trên mẫu nghiên cứu cho thấy HSG không là một phương pháp
chính xác trong chẩn đoán sự thông thương của vòi trứng. Nội soi chẩn đoán là
một phương pháp cần thiết để xác định tổn thương của vòi trứng khi có nghi ngờ.
Xét nghiệm kháng thể kháng Chlamydia có thể có giá trị trong tiên lượng sự thông
thương của vòi trứng và tổn thương dính khi phối hợp với HSG. Do đó, xét
nghiệm này có thể có ích cho việc định hướng khảo sát tiếp theo và tư vấn cho
bệnh nhân trước khi quyết định thực hiện nội soi chẩn đoán.
Cần tiến hành các nghiên cứu tiền cứu với cỡ mẫu lớn, trong đó sử dụng kết quả
nội soi làm tiêu chuẩn ...