Những người mắc bệnh này rất dễ bị rối loạn cơ xương vì các đốt sống thắt lưng phải chịu gánh nặng quá mức, dẫn đến tổn thương. Béo phì còn làm tăng nguy cơ thấp khớp (khớp gối và háng). Các bệnh về xương khiến bệnh nhân giảm hoạt động thể lực, làm nặng thêm bệnh béo phì. Béo phì là trạng thái thừa cân do tăng khối lượng mỡ. Nếu mỡ thừa phân phối đều toàn thân, đó là trường hợp béo phì toàn thân. Nếu mỡ thừa tập trung chủ yếu ở bụng, mông đùi, đó...
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
Hậu quả của bệnh béo phì Hậu quả của bệnh béo phì Những người mắc bệnh này rất dễ bị rối loạn cơ xương vì các đốtsống thắt lưng phải chịu gánh nặng quá mức, dẫn đến tổn thương. Béo phìcòn làm tăng nguy cơ thấp khớp (khớp gối và háng). Các bệnh về xươngkhiến bệnh nhân giả m hoạt động thể lực, làm nặng thêm bệnh béo phì. Béo phì là trạng thái thừa cân do tăng khối lượng mỡ. Nếu mỡ thừaphân phối đều toàn thân, đó là trường hợp béo phì toàn thân. Nếu mỡ thừatập trung chủ yếu ở bụng, mông đùi, đó là béo phì hướng tâm, rất nguy hiểmvì dễ dẫn đến rối loạn lipid máu. Các chuyên gia thường dùng chỉ sốeo/mông (Waist Hip Ratio-WHR) để đánh giá béo phì. WHR ở nam lớn hơn0,95 và ở nữ lớn hơn 0,85 là đã ở mức báo động. Chỉ số BMI cũng thườngđược dùng để đánh giá thể trọng (BMI lớn hơn 25 được coi là béo phì). Cókhi chỉ cần đo vòng eo là đủ xác định béo phì (nam hơn 90 cm, nữ hơn 80cm). Bệnh béo phì có thể dẫn đến các hậu quả sau: - Bệnh tim: Mỡ bọc lấy tim, làm cho tim khó co bóp. Mỡ cũng làmhẹp mạch vành, cản trở máu đến nuôi tim, gây nhồi máu cơ tim. - Tăng huyết áp. - Rối loạn lipid máu: Béo phì làm tăng nồng độ triglycerid và LDL-cholesterol, làm giảm nồng độ HDL-cholesterol trong máu. Người béo bụngdễ bị rối loạn lipid máu. - Tiểu đường: Béo phì toàn thân và béo bụng là yếu tố nguy cơ chotiểu đường type 2. Phụ nữ béo phì có nguy cơ tiểu đường cao gấp 2,5 lần sovới người bình thường. - Đột quỵ: Người có BMI lớn hơn 30 dễ bị tử vong do bệnh mạch máunão. Nếu có thêm các yếu tố nguy cơ khác (tiểu đường type 2, tăng huyết áp,rối loạn lipid máu) thì đột quỵ có thể xảy ra với người có BMI thấp hơn(25,0-29,9). - Giảm khả năng sinh sản : Ở người béo phì, mô mỡ làm rối loạnbuồng trứng, hàng tháng trứng không lớn lên và chín rụng được, chất lượngtrứng kém, rối loạn kinh nguyệt. Mỡ quá nhiều sẽ lấp kín buồng trứng vàgây vô kinh. Béo phì cũng dễ gây hội chứng đa u nang, khó thụ tinh, dễ sẩythai. Cần lưu ý khi mãn kinh, một số phụ nữ dễ tăng béo bụng. - Giảm chức năng hô hấp: Mỡ tích ở cơ hoành, làm cơ hoành kémuyển chuyển, sự thông khí giảm, gây khó thở, khiến não thiếu ôxy, tạo hộichứng Pickwick (ngủ cách quãng suốt ngày đêm, lúc ngủ lúc tỉnh). Ngừngthở khi ngủ cũng là vấn đề hay gặp ở người béo phì nặng, nhất là khi béobụng và có cổ quá bự. - Tăng viêm xương khớp: Các khớp chịu đựng sức nặng quá mức sẽ dễđau. Lượng axit uric ở người béo tăng, dễ gây bệnh gút. Nhiều công trìnhnghiên cứu đã khẳng định, khi BMI tăng, lượng axit uric huyết thanh tăngtheo. - Ung thư: Nam giới béo phì dễ bị ung thư đại trực tràng, còn nữ giớidễ bị ung thư đường mật, vú, tử cung, buồng trứng. - Bệnh đường tiêu hoá: Người béo phì dễ bị bệnh túi mật, có bấtthường về gan, gan nhiễm mỡ, ruột nhiễm mỡ, nhu động ruột giảm (gây đầyhơi, táo bón); hệ mạch ở ruột bị cản trở, gây trĩ. Đối với trẻ em, chứng béo phì cũng có tác hại rất lớn. Những trẻ nàydễ bị béo phì khi trưởng thành; nguy cơ mắc các bệnh tim mạch tăng cao(bệnh mạch vành: gấp đôi; xơ vữa mạch máu: gấp 7; tai biến mạch não: gấp13 lần).