Tên Việt Nam: Phân con dơi Tên Hán Việt khác: Thiên thử thỉ, Thử pháp, Thạch can (Bản Kinh), Hắc sa tinh (Bản Thảo Cương Mục), Thử chân, Thiên lý quang, Thiên thử thỉ, Hắc sát ốc, Lạn sa tinh, Lạn tử tinh (Hòa Hán Dược Khảo), Phi thử thỉ (Sinh Sản Biện), Phục dực thỉ (Trung Quốc Trung Y Bí Phương Đại Toàn). Tên khoa học: Faeces vespertiliorum, Excrementum vespertilii, Tên gọi: (1) Dơi ngày ẩn núp, đêm ra bắt muỗi ăn, phân nó trông nhấp nhánh như cát nên có tên. (2) Phục: ẩn núp, dực: cánh,...
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
DƯỢC HỌC - DẠ MINH SA DƯỢC HỌCDẠ MINH SA Tên Việt Nam: Phân con dơi Tên Hán Việt khác: Thiên thử thỉ, Thử pháp, Thạch can (Bản Kinh), Hắc sa tinh (BảnThảo Cương Mục), Thử chân, Thiên lý quang, Thiên thử thỉ, Hắc sát ốc, Lạnsa tinh, Lạn tử tinh (Hòa Hán Dược Khảo), Phi thử thỉ (Sinh Sản Biện), Phụcdực thỉ (Trung Quốc Trung Y Bí Phương Đại Toàn). Tên khoa học: Faeces vespertiliorum, Excrementum vespertilii, Tên gọi: (1) Dơi ngày ẩn núp, đêm ra bắt muỗi ăn, phân nó trông nhấp nhánhnhư cát nên có tên. (2) Phục: ẩn núp, dực: cánh, thỉ: phân, ban đêm mới bay ra kiếm mồinên gọi là Phục Dực. Mô tả: Dạ minh sa là phân của các loài dơi như con Vespertilia superansThomas thuộc họ Vespertilionidae (Dơi muỗi). Dơi gồm những thú cỡ nhỏhay trung bình là thú độc nhất có khả năng bay, chi trước biến đổi thànhcánh, đó là một màng da rộng, có nhiều vị thể xúc giác, có cơ nhỏ, ít lôngnối liền cánh tay, bàn tay và ngón tay với mình, chi sau và đuôi. Dơi ăn sâubọ, ăn cá, ăn quả hay mật hoa. Thường đi ăn đêm, ở nước ta có dơi lá mũiRhinolophus và Hipposideros, dơi nhà Pachyotus Kuhli thuộc họ Dơi muỗi;Loài dơi tai ta Plecotus auritus L. thuộc họ Dơi muỗi. Địa lý: Có khắp nơi trong nước Việt Nam, ở kẽ nóc nhà, đền chùa, hốc cây to. Thu chọn: Chọn vào mùa đông. Phần dùng làm thuốc: Phân con dơi lâu năm trong đó có mắt muỗi. Phân khô là những bộtnhỏ 2 đầu nhọn màu nâu đen sáng bóng nhẹ xốp, mùi hôi đặc biệt. Khônglẫn tạp chất nhiều là tốt. Bào chế: (1) Khi dùng đem phân lọc nước sạch đất vấn, chỉ lấy những chất lấplánh thôi, phơi khô cách giấy sao qua để dùng. Những chất lấp lánh này làmắt của muỗi nó ăn vào (Bản Thảo Cương Mục). (2) Ngâm nước đánh tan khuyấy kỹ, gạn bỏ cặn đầu, rồi để lắng lấycặn phơi khô tán bột (dùng sống), hoặc nhặt bỏ tạp chất rửa đãi nhanh, phơikhô tẩm ít rượu để một lúc sao khô (mới sao thì mềm, sau cứng lại) có thểsao đen tồn tính (Trung Dược Học). Tác dụng: Hoạt huyết, sáng mắt thanh can tả nhiệt đồng thời có tác dụng hoạthuyết tiêu tích. Tính vị: Vị cay, tính lạnh. Quy kinh: Vào kinh Can. Tác dụng, Chủ trị: Sáng mắt. Trị động kinh, lừ đừ muốn ngủ, nhức đầu, choáng váng,thong manh. Bảo quản: Đậy kín trong lọ màu, tránh ẩm, tránh chất kiềm như vôi... Liều dùng: Từ 3 – 6g Kiêng kỵ: Đàn bà có thai cấm dùng, không có ứ nhiệt cấm dùng. . Ghét Bạch liễm, Bạch vi (Bản Thảo Kinh Sơ). Đơn thuốc kinh nghiệm: + Trị chướng ế ở mắt, dùng Dạ minh sa tán bột cho vài gan lợn nấuăn luôn trước đó (Trực Chỉ Phương). + Sưng tấy chảy mủ, dùng Dạ minh sa 1 lượng, Quế nửa lượng, Nhũhương 1 phân tán bột, 1/2 lượng đường cát khô trộn với nước giếng xức vào(Trực Chỉ Phương). + Mủ thối chảy từ lỗ tai ra, dùng Dạ minh sa 2 chỉ, Xạ hương 1/4muỗng cà phê, đổ vào trong tai (Thánh Huệ Phương). + Trị thong manh không nhìn rõ, dùng Dạ minh sa sao vàng với gạonếp một lượng, Bách diệp (sao) 1 lượng tán bột trộn mật làm viên bằng hạtngô đồng uống với Trúc diệp trước khi ngủ lần 20 viên, đến canh năm gàgáy sáng uống 20 viên, liên tục cho đến khi bớt (Thánh Huệ Phương). + Trị sốt rét không dứt, dùng Dạ minh sa tán bột uống nước trà nguộilần 1 chỉ. Có phương khác trị sốt rét cơm không định kỳ, lâu ngày khôngkhỏi, dùng Dạ minh sa 50 viên, Châu sa nửa lượng, Xạ hương 1 chỉ tán bột,viên với cơm bằng hạt đậu xanh lớn, uống trước khi lên cơn lần 10 viên vớinước sôi (Thánh Huệ Phương). + Sốt rét trước khi có thai, dùng Dạ minh sa 3 chỉ tán bột uống vớirượu nóng lúc đói (Kinh Nghiệm Bí Phương). + Ho không dứt, dùng dơi bỏ cánh, chân, tẩm rượu nướng tán bột 1chỉ, dùng sau khi ăn với nước sôi (Thọ Vực Thần Phương). + Các loại cam độc, dùng Dạ minh sa 5 chỉ bỏ vào bình, thịt nạc heo 3lượng xắt lát bỏ vào trong bình, đổ nước sắc chín lấy thịt nước ra cho ăn.Muốn hết thai độc trong bụng mẹ lấy Sinh khương 4 lượng, để cả vỏ xắt látsao, với bột Hoàng liên một lượng trộn hồ làm viên bằng hạt đậu xanh vớinước cơm, ngày 3 lần (Toàn Aáu Tâm Kính Phương). + Đau nhức răng, dùng Dạ minh sa (sao), Ngô thù du nấu lấy nướctẩm rồi sao, 2 vị bằng nhau tán bột, trộn nhựa cóc làm viên bằng hạt mè, góitrong vải lần ngậm 2 viên, súc ra nước nhớt thì bớt, không nên nuốt vì độc(Phổ Tế Phương). + Trẻ con mắt bị tước mục (quáng gà), dùng Dạ minh sa sao tán bộttrộn mật heo viên bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 5 viên với nước cơm. Cóbài khác gia thêm Hoàng cầm, lượng bằng nhau, tán bột lấy nước cơm sắcvới gan heo, uống nước lần nửa chỉ (Trung Quốc Trung Y Bí Phương ĐạiToàn). + Hôi nách, dùng bột Dạ minh sa trộn nước đậu xị xức vào (TrungQuốc Trung Y Bí Phương Đại Toàn). + Trị chứng t ...