Danh mục

So sánh kết quả sinh thiết thận ở nhóm bệnh nhân không suy thận với nhóm bệnh nhân suy thận tiến triển nhanh

Số trang: 9      Loại file: pdf      Dung lượng: 366.51 KB      Lượt xem: 11      Lượt tải: 0    
10.10.2023

Phí tải xuống: 2,000 VND Tải xuống file đầy đủ (9 trang) 0
Xem trước 2 trang đầu tiên của tài liệu này:

Thông tin tài liệu:

Bài viết so sánh biến chứng STT ở BN RPRF với BN không suy thận tiến triển nhanh (non-RPRF), so sánh kết quả tổn thương mô bệnh học ở 2 nhóm này.
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
So sánh kết quả sinh thiết thận ở nhóm bệnh nhân không suy thận với nhóm bệnh nhân suy thận tiến triển nhanh Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 3 * 2019 Nghiên cứu Y học SO SÁNH KẾT QUẢ SINH THIẾT THẬN Ở NHÓM BỆNH NHÂN KHÔNG SUY THẬN VỚI NHÓM BỆNH NHÂN SUY THẬN TIẾN TRIỂN NHANH Trần Thị Bích Hương*, Nguyễn Sơn Lâm*, Nguyễn Cẩm Tuyết**, Nguyễn Ngọc Lan Anh*, Lê Thanh Toàn***, Trần Hiệp Đức Thắng**** TÓM TẮT Đặt vấn đề: Sinh thiết thận (STT) giữ vai trò quan trọng trong chẩn đoán chính xác nguyên nhân để hướng dẫn điều trị và tiên lượng hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân (BN) suy thận tiến triển nhanh (RPRF). Mục tiêu: (1) So sánh biến chứng STT ở BN RPRF với BN không suy thận tiến triển nhanh (non-RPRF); (2) So sánh kết quả tổn thương mô bệnh học ở 2 nhóm này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu, mô tả, thực hiện từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2018, tại khoa Thận, bệnh viện Chợ Rẫy. BN được STT dưới hướng dẫn siêu âm sử dụng kim sinh thiết số 16G. Tất cả BN được theo dõi đánh giá biến chứng trong quá trình nằm viện ở lần STT. Kết quả: Trong 346 BN STT, có 119 BN RPRF và 227 BN non-RPRF. Tuổi trung vị là 29 (22-39,3) với nữ chiếm 58.4%, tỉ lệ nữ:nam là 1,4:1. Chỉ định sinh thiết thận chính là do suy thận tiến triển nhanh ở nhóm RPRF (100%) và hội chứng thận hư (53,3%) ở nhóm non-RPRF. Ngoài suy thận, nhóm RPRF có 32/119 (26,9%) BN dùng kháng đông và 56/119 (47%) BN chạy thận nhân tạo (CTNT). Trong khi BN nhóm Non-RPRF chỉ 5(2,2%) BN dùng kháng đông, và không BN chạy TNT ở thời điểm STT. Biến chứng STT ở nhóm RPRF cao hơn nhóm non-RPRF (19/118 (16,1%) BN và 6/226 (2.7 %) BN, p

Tài liệu được xem nhiều:

Gợi ý tài liệu liên quan: